Tình hình văn hoá, tư tưởng từ thế kỉ XVI - đầu thế kỉ XVIII

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Tình hình văn hoá, tư tưởng từ thế kỉ XVI - đầu thế kỉ XVIII

Bài gửi by GiaCatLuuVan on Sat Jun 28, 2008 8:56 am

1. Tư tưởng, tôn giáo, tín ngưỡng

Cùng với sự sụp đổ của Nhà nước trung ương tập quyền Lê sơ, sự phát triển của kinh tế hàng hoá, là sự mất dần hiệu lực và vị trí độc tôn của Nho giáo. Tuy nhiên, Nho giáo nhìn chung vẫn còn giữ được địa vị thống trị trong xã hội. Phật giáo, Đạo giáo và các hình thức tín ngưỡng dân gian khác vốn bị nhà nước Lê sơ hạn chế, thậm chí cấm đoán, thì bây giờ lại có điều kiện được phục hồi và phát triển. Nhiều chùa chiền, đền miếu, am, quán được khôi phục hoặc được xây dựng mới ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài, trong đó không ít là do sự khuyến khích và cung tiến của vua chúa, phi tần và gia đình quan lại.

Từ năm 1533, một giáo sĩ đạo Thiên Chúa vào truyền đạo ở khu vực duyên hải tỉnh Nam Định, nhưng phải đến thế kỉ XVII, việc truyền bá đạo Thiên Chúa mới thực sự được đẩy mạnh. Lúc đầu, cả chúa Nguyễn và chúa Trịnh đều tỏ ra thân thiện với các nhà truyền giáo, nhưng dần dần chúa Trịnh và chúa Nguyễn đều thi hành chính sách cấm đạo. Tuy thế, cho đến thập niên 70 của thế kỉ XVII, số giáo dân ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài đã tăng lên đến trên 10 vạn người.

Trong quá trình phát triển của dân tộc, tiếng Việt ngày càng phong phú và trong sáng. Trên nền tảng đó, các giáo sĩ phương Tây vào nước ta truyền đạo đã học tiếng Việt để giảng đạo và dùng chữ cái La-tinh ghi âm tiếng Việt. Cho đến giữa thế kỉ XVII, với sự xuất hiện của cuốn từ điển Việt - Bồ - La-tinh và cuốn Giáo lí cương yếu bằng tiếng Việt, có thể coi chữ Quốc ngữ đã ra đời. Tuy nhiên, phải vài thế kỉ sau đó, mãi đến đầu thế kỉ XX, chữ Quốc ngữ mới chính thức trở thành chữ viết của dân tộc Việt Nam.

2. Giáo dục và khoa cử

Từ thế kỉ XVI trở đi, mặc dù tình hình chính trị không ổn định, nhưng việc giáo dục và khoa cử theo hệ thống Nho giáo vẫn được duy trì tương đối liên tục.

Chỉ hai năm sau khi lên ngôi, vào năm 1529, Mạc Đăng Dung đã mở ngay khoa thi Hội lấy đỗ 27 tiến sĩ. Từ đó về sau, cứ ba năm, nhà Mạc mở một khoa thi lấy đỗ tổng cộng 385 tiến sĩ, trong đó có Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585, tức Trạng Trình) và bà Nguyễn Thị Duệ - nữ tiến sĩ đầu tiên và duy nhất trong lịch sử khoa cử Nho học Việt Nam.

Triều Lê trung hưng tiếp nối truyền thống của nhà Lê sơ trước đây, bên cạnh hình thức thi cử chính quy, còn tổ chức các kì thi chế khoa, khoa sĩ vọng lấy đỗ 851 tiến sĩ. Trong số những người đỗ đạt cao, có nhiều người tài giỏi và có cống hiến lớn cho đất nước. Tuy vậy, nội dung giáo dục ngày càng khuôn sáo, việc tổ chức thi cử nặng về hình thức và gian lận công khai nên chất lượng giáo dục ngày một suy giảm.

Ở Đàng Trong, hình thức khoa cử xuất hiện muộn và không được chú trọng như Đàng Ngoài. Họ Nguyễn quan tâm hơn đến kiến thức thực tế và tuyển dụng quan lại chủ yếu thông qua hình thức tiến cử.

_________________
VƯƠNG GIA ĐẠI VIỆT



NAM VIỆT VƯƠNG - GIACATLUUVAN
avatar
GiaCatLuuVan
Thái Tử Điện Hạ
Thái Tử Điện Hạ

Tổng số bài gửi : 255
Age : 25
Đến từ : Thành Đô - Nước Thục
Registration date : 29/05/2008

Xem lý lịch thành viên http://diendanonline.forumn.biz

Về Đầu Trang Go down

Re: Tình hình văn hoá, tư tưởng từ thế kỉ XVI - đầu thế kỉ XVIII

Bài gửi by GiaCatLuuVan on Sat Jun 28, 2008 8:56 am

3. Văn học và nghệ thuật

Thế kỉ XVI – XVII và đầu thế kỉ XVIII, ở nước ta, văn học chữ Hán vẫn chiếm ưu thế với các tác giả tiêu biểu là Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Đào Duy Từ, Nguyễn Dữ, Mạc Thiên Tứ, Nguyễn Cư Trinh, Ngô Thế Lân… Tuy vậy, nét nổi bật của văn học giai đoạn này là sự nở rộ của các tác phẩm văn thơ viết bằng chữ Nôm, trong đó đặc biệt là những truyện Nôm khuyết danh như Trê cóc, Trinh thử, Phạm Công – Cúc Hoa, Thạch Sach, Tống Trân – Cúc Hoa…

Đây cũng là giai đoạn đánh dấu sự phục hồi và phát triển của các loại hình nghệ thuật diễn xướng và tạo hình cổ truyền. Nghệ thuật sân khấu như chèo, tuồng, hát ả đào, hát quan họ, hát trống quân… hết sức phong phú, đa dạng, phản ánh sinh động đời sống và ước vọng của nhân dân. Nhiều đình, chùa và các công trình kiến trúc đương thời còn lưu giữ được các tác phẩm điêu khắc gỗ diễn tẻ cảnh sinh hoạt thường ngày ở làng quê như chèo thuyền, đấu vật, chọi gà, đánh cờ, đi cày, tắm ao… Tiêu biểu nhất là tượng Phật Bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Bút Tháp (Thuận Thành, Bắc Ninh).

Tượng được tạc vào năm 1656. Bố cục hết sức tinh khéo, diễn tả vẻ đẹp tự nhiên, mềm mại của người phụ nữ. Trên bức tượng, các cánh tay xoè ra uyển chuyển như động tác múa và những bàn tay nhỏ sắp xếp như ánh hào quang toả ra xung quanh. Bức tượng là hình ảnh của bàn tay và khối óc, của lao động và trí tuệ, là biểu tượng của sức sống và sự vươn lên của con người.

4. Khoa học – kỹ thuật

Một trong những thành tựu nổi bật nhất của thời kỳ này là sự xuất hiện nhiều công trình sử học lớn như Lê triều công nghiệp thực lục của Hồ Sĩ Dương, Ô châu cận lục của Dương Văn An, Thiên Nam ngữ lục (khuyết danh)… Đặc biệt, Đại Việt sử kí toàn thư do Ngô Sĩ Liên khởi thảo từ thế kỉ XV, rồi được các sử thần triều Lê sau này bổ sung và hoàn chỉnh. Sách được khắc in vào năm Chính Hoà thứ 18 (1697) và trở thành bộ quốc sử tiêu biểu nhất của Việt Nam thời phong kiến.

Khoa học quân sự thế kỉ XVI – XVII cũng đạt được những thành tựu rất quan trọng về cả hai phương diện lí luận và thực tiễn với sách Hổ trướng khu cơ và công trình luỹ Thầy của Đào Duy Từ. Ở giai đoạn này, kỹ thuật đúc súng và đóng các loại thuyền chiến có trang bị đại bác của Đàng Trong được nâng cao thêm một bước do sự tiếp thu và vận dụng kỹ thuật của phương Tây.

_________________
VƯƠNG GIA ĐẠI VIỆT



NAM VIỆT VƯƠNG - GIACATLUUVAN
avatar
GiaCatLuuVan
Thái Tử Điện Hạ
Thái Tử Điện Hạ

Tổng số bài gửi : 255
Age : 25
Đến từ : Thành Đô - Nước Thục
Registration date : 29/05/2008

Xem lý lịch thành viên http://diendanonline.forumn.biz

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết