Pháp thuộc

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

Pháp thuộc

Bài gửi by Văn Vương Đế on Sat Jun 21, 2008 2:50 pm

Chiến tranh Việt-Pháp là một giai đoạn trong lịch sử Việt Nam, từ năm 1858 đến 1945 (hoặc 1940), do hậu quả dẫn tới việc Pháp đô hộ Việt Nam trong một thời kỳ khá dài nên còn gọi là thời kỳ Pháp thuộc đối với Việt Nam.

Sau khi người Pháp xâm chiếm thành công Đông Dương (trong đó có Việt Nam), Pháp đã chia Việt Nam ra làm 3 xứ riêng lẻ là Bắc Kỳ (dưới chế độ bảo hộ - protectorat), Trung Kỳ (bảo hộ) và Nam Kỳ (dưới chế độ thuộc địa - colonie); cùng với 2 xứ bảo hộ Ai Lao (Lào) và Cao Miên (Campuchia), vùng đất này đã trở thành Liên bang Đông Dương (Union Indochinoise) hay còn được gọi với tên "Đông Dương thuộc Pháp" (Indochine française).

[sửa] Căng thẳng trước chiến tranh
Nguyễn Ánh nhờ Bá Đa Lộc đến Pháp để có thể nhờ một sự giúp đỡ của người Pháp để giành lại ngôi cho ông. Tuy nhiên trước sức ép của một số tư sản Pháp đang chống lại vua Louis XVI và vấn víu ở cuộc nội chiến Bắc Mĩ nên việc giúp đỡ không thành. Hiệp ước Versailles do Luois XVI đề ra giữa việc giao một số bộ binh Pháp đến giúp Nguyễn Ánh để đổi được một số vùng hải quân trọng điểm ở Annam đã được Bá Đa Lộc thay cho Nguyễn Ánh kí kết. Tuy vậy, Bá Đa Lộc chỉ tìm được một số chuyên gia đến giúp Nguyễn Ánh.

Tuy đây chỉ là sự giúp đỡ của Bá Đa Lộc, chứ không là của Pháp, nhưng Pháp vẫn lại muốn ép Nguyễn Ánh phải thực thi Hiệp ước Versailles. Nguyễn Ánh không đồng tình và căng thẳng cứ từ đó mà ra. Đến thời vua Minh Mạng, căng thẳng lại càng phá triển mạnh do những chính sách như bế quan tỏa cảng, cấm đạo, đuổi sứ giả,...

Sau khi trở thành Hoàng đế Việt Nam, 1 trong những tuyên cáo của Tự Đức có ghi:

“Đạo Chúa hiển nhiên là trái với tự nhiên, bởi nó không tôn trọng các tổ tiên đã khuất. Các thầy giảng đạo gốc Âu Châu, là các kẻ đáng tội nhất, sẽ bị ném ra biển, với đá cột quanh cổ, và một phần thưởng ba mươi nén bạc sẽ được trao cho bất cứ ai bắt được một người trong họ. Các thầy giảng gốc Việt Nam ít tội hơn, và trước tiên sẽ bị tra tấn để xem họ có sẽ từ bỏ những sai lầm của mình hay không. Nếu từ chối, họ sẽ in dấu trên mặt và đày đi đến những vùng rừng thiêng nước độc nhất trong nước.”

Ba năm sau đó, năm 1851, sự khoan dung này dành cho các linh mục bản xứ đột nhiên bị bãi bỏ. Từ đó về sau: “hoặc là họ phải chà đạp lên thánh giá, nếu không sẽ chém làm hai ở ngang lưng.” (trảm yêu). Trong năm đó và năm kế tiếp, bốn vị giáo sĩ truyền đạo người Pháp đã bị chém đầu và thi thể bị ném trôi sông hay ra biển. Báo chí Công Giáo tại Pháp kêu la trong sự kinh hoàng, và sự khích động đã thu nhận được một cảm tình viên nơi Hoàng Hậu Pháp Eugenie, nhất là khi trong số các nạn nhân sau này có tên một vị giám mục Tây Ban Nha mà khi còn là một thiếu nữ, bà ta có quen biết tại Andalusia.

Năm 1856, chiến thuyền Catinat vào cửa Đà Nẵng rồi cho người đem thư lên trách triều đình Việt Nam về việc giết giáo sĩ đạo Thiên Chúa. Không được trả lời, quân Pháp bắn phá các đồn lũy rồi bỏ đi. Có giám mục Pellerin trốn được lên tàu, về Pháp thuật lại cho triều đình Pháp cảnh các giáo sĩ Thiên Chúa giáo bị đàn áp dã man ở Việt Nam. Pellerin nói rằng chỉ cần có loạn là các tín đồ Thiên Chúa giáo sẽ nổi lên đánh giúp. Cùng sự tác động của Hoàng hậu Pháp Eugénie, một người rất sùng đạo, Hoàng đế Pháp quyết ý sang đánh Việt Nam.[1]

Ngày 16 tháng 9 năm 1856, tàu Catinat của Pháp được cho phép cập bến Đà Nẵng để yến kiến Tự Đức. Phái viên Pháp lúc này lại không được gặp Tự Đức chỉ vì nhà vua không biết tiếng Pháp.

Ngày 26 tháng 9 năm 1856, một số tàu chiến của Pháp ở Thái Bình Dương dạt vào bờ biển Annam bắn phá, rồi bỏ đi. Lúc này, căng thẳng đã không được giải quyết mà còn nặng nề hơn thế.

Ngày 24 tháng 10 năm 1856, tàu Capricieuse của Pháp tuy được cho phép vào cảng Đà Nẵng nhưng những yêu cầu của một số phái viên Pháp yêu cầu Tự Đức về việc thông thương và bãi bỏ cấm đạo đã không được Tự Đức thông qua. Trong một số phái viên của Pháp lúc này là Montigny tức giận mắng chửi cả cung điện Huế.[cần chú thích]

Tàu Capricieuse trở về có sự xuất hiện của một giám mục tên là Pellerin may mắn trốn được trong tàu. Ở Pháp khi kể lại về việc tàn sát giáo dân, người Pháp lại có cớ hơn trong việc can thiệp vũ trang tới Annam. Với lời hứa sẽ có sự giúp đỡ của giáo dân Annam như Pellerin nói, Bộ trưởng Ngọai giao Pháp Walewski giao nhiệm vụ cho Phó Đô đốc Hải quân Pháp - Thái Bình Dương Genoully là sau khi chiếm được Quảng Châu phải tiến tới Đà Nẵng chiếm được vùng này, Nữ hoàng Isabella II của Tây Ban Nha cũng hứa sẽ đem tàu chiến đến giúp đỡ người Pháp cứu lấy các giáo dân.


[sửa] Chiến tranh ở Nam Kì

[sửa] Đà Nẵng
Đà Nẵng có một địa lý lí tưởng cho Pháp nhất là tàu chiến, cử biển nơi đây tương đối sâu và dễ đi chứ không khó khăn. Chưa kể Đà Nẵng giàu có, dân đông nhất là giáo dân. Đây có thể là hậu phương tốt nhất để chiếm Huế.

Ngày 31 tháng 8 năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Hải quân Pháp do Genoully (phía Pháp) và Palnanca (phía Tây Ban Nha) chỉ huy tấn công cảng Đà Nẵng bằng thuyền chiến và tập kết quân ở Sơn Trà.

Ngày 1 tháng 9 năm 1858, Genoully gửi tối hậu thư buộc trấn thủ Trần Hoàng đang giữ Đà Nẵng trong hai giờ phải giao nộp cho quân Pháp tỉnh này. Nhưng chưa tới hạn, Genoully ra lệnh bắn phá đồn Điện Hải, An Hải. Triều đình Huế nghe tin căng thẳng ở Đà Nẵng, Tự Đức cử ngay Nguyễn Tri Phương tổng chỉ huy mặt trận đem quân giải quyết căng thẳng. Nguyễn Tri Phương cho quân đào hào, sơ tán dân, lập một hàng rào vây ở mé biển để quân Pháp ở Sơn Trà bí ở Sơn trà. Suốt 5 tháng vây hãm, cái đói và nóng nực đã khiến quân Pháp mệt mỏi, Pellerin khuyên Genoully đưa quân ra Bắc sẽ có giáo dân giúp nhưng luận điệu giáo dân giúp chỉ làm Genoully bực bội.

Ngày 2 tháng 2 năm 1859, Genoully để loại một số tiểu đoàn chống cự quân Nguyễn Tri Phương ở Đà Nẵng còn lại theo đường biển từ Vũng Tàu ven theo tiến vào Gia Định.


[sửa] Gia Định
Vũng Tàu: Ngày 9 tháng 2 năm 1859, quân Pháp tiến vào Vũng Tàu. Sáng ngày 10 tháng 2, quân Pháp nổ súng, công phá các đồn ven biển và dùng quân bộ có trợ giúp tàu chiến tấn công đồ Phúc Thắng, Lương Thiện, Phúc Mĩ, Danh Nghĩa có nhiệm vụ bảo vệ đường sông hướng vào Gia Định. Sau đó, các tàu chiến Pháp đi một cách chậm chạp men theo sông Cần Giờ tiến vào cửa thủy Gia Định.

Nhà Bè: Cửa thủy Gia Định có chặng sông Nhà Bè với 12 đồn ven sông chặn đánh với tàu chiến Pháp suốt 6 ngày đêm. Đặc biệt, các lính thủy đồn Giao Khẩu và Hữu Bình đột kích đánh đắm hai thuyền La Dragon va Avalanche của Pháp. Sáng ngày 16, quân Pháp chậm rãi vào đậu sát sông Bến Nghé.

Gia Định: Ngày 17 tháng 2 năm 1859, tàu chiến Pháp tập trung hỏa lực bắn phá cửa thành Gia Định rồi đem quân đánh mạnh vào mặt thành tới trưa. Tàu chiến Pháp sau đó chuyển hướng bắn nát các lỗ châu mai quân trong thành khiến thế bị vỡ, trấn thủ Võ Duy Ninh xấu hổ tự sát.

Tháng 3 năm 1859, Genoully cho phá thành rồi cùng quân vào tàu tiến vào tiếp tế Đà Nẵng.

Ngày 8 tháng 5 năm 1859, quân Pháp đánh phá các đồn Điện Hải, Phúc Ninh, Thạch Giản khiến Nguyễn Tri Phương phải rút quân cố thủ phía sau nhưng Genoully cũng thiệt hại nặng phải rút về Gia Định không dám tiến sâu thêm.

Pháp đánh với Áo ở Ý, Genoully được triệu về nước và thay ông là Page. Page táo bạo cho quân đánh dọc phía bắc Đà Nẵng và làm chủ đèo Hải Vân, rồi đánh thẳng vào Huế. Nhưng Page thất bại, quân Pháp thiệt hại tới 300 quân. Năm 1860, Page đành cho quân Pháp rút hoàn toàn vào Gia Định.


[sửa] Đánh nhau ở đồn Chí Hòa
Xem chi tiết:Trận Đại đồn Kỳ Hòa

Quân Pháp dành thế chủ động ở Trung Quốc và cử Page đánh Hoa Bắc. Quân Pháp ở Gia Định chỉ có 1000 quân phải trải dài chiến tuyến 10 km lúc này Channer được thay tới. Nguyễn Tri Phương từ Đà Nẵng tiến vào phía Nam lập đồn Chí Hòa để quân Pháp không thể tiến ra ngoài Gia Định.

Ngày 25 tháng 10 năm 1860, Pháp tiếp viện cùng sự giúp sức của hải quân ngoài Thái Bình Dương tập trung ngoài đồn Chí Hòa.

Ngày 7 tháng 2 năm 1861, cùng 4000 quân và 50 quân tập trung đông đủ được chính phủ Pháp giao quyền Đô đốc Channer cho tập dợt, bắn pháo thị uy đồn.

Ngày 24 tháng 2 năm 1861, quân Pháp nổ súng cả nổ pháo bắn tới tấp vào đồn, quân bộ được yểm trợ của pháo cao xạ chạy vào đồn đánh xáp lá cà với quân trong đồn. Thế yếu, quân Nguyễn Tri Phương chống cự tới kiệt sức đành tháo chạy, lỗ châu mai trong đồn bắn vào quân Pháp đủ để quân rút lui an toàn. Đồn Chí Hòa chỉ trong phút chốt thất bại nặng nề. Nguyễn Tri Phương đem quân trú đồn Thuận Kiều.

Ngày 28 tháng 2 năm 1861, quân Pháp công kích đồn Thuận Kiều, Nguyễn Tri Phương rút về Biên Hòa. Pháp thừa thằng xông tới đánh tan quân Huế, chiếm được Định Tường, Biên Hòa và Vĩnh Long.
avatar
Văn Vương Đế
Hoàng Đế Đại Việt
Hoàng Đế Đại Việt

Tổng số bài gửi : 251
Age : 26
Đến từ : Quốc Tử Giám
Registration date : 20/06/2008

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang

- Similar topics

 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết